Tin Tức Cập Nhập

Thông tin thị trường XNK từ các nước về Việt Nam

Tuần qua, thị trường không có sự thay đổi lớn cả về giá chào, giá chốt và sản lượng chốt, nhìn chung nhu cầu thị trường vẫn còn rất yếu, giá bán các sản phẩm thép tại thị trường nội địa vẫn tiếp tục giữ khoảng cách thấp hơn giá nhập khẩu từ nước ngoài về từ 10 – 15usd/ tấn, thậm chí có loại khoảng cách lên đến 20usd/tấn. Chính nhu cầu nội địa thấp, giá giao dịch thấp hơn giá quốc tế làm cho giá chào nhập khẩu từ nước ngoài gần như đi ngang trong tuần qua.

images

Các nhà cung cấp Nhật Bản vẫn giữ quan điểm sẽ tăng giá thường niên vào thời điểm cuối năm như hiện tại, việc thiết lập một mặt bằng giá cao trước thời điểm năm mới là điều rất cần thiết để duy trì lợi nhuận trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào đang ổn định ở mức cao. Việc thiết lập mặt bằng giá năm nay sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến mặt bằng giá  năm tới. Nhật Bản có lý do để tăng giá sản phẩm của họ khi mà nhu cầu tiêu thụ tại Nhật Bản vẫn đang khá tốt, các nhà sản xuất đang ráo riết sản xuất và giao hàng cho khách hàng trước  thời điểm thuế VAT của nước này tăng từ 5% lên 10% từ ngày 01.04.2014 tới. Hai ngành hàng đang “sốt” tại thị trường này là ngành sản xuất ô tô và ngành đóng tàu.

Tuần qua, những tập đoàn sản xuất thép lớn như Chinasteel, Chung Hung Steel, Shangshing…đã công bố giá mới giao hàng tháng 1 lên 10-15usd/tấn. Thị trường Việt Nam gần như chưa sẵn sàng chấp nhận giá chào mới này. Diễn biến giá Trung Quốc lên xuống trong 1-2 tuần tới sẽ tác động đến xu hướng giá của quốc gia này.

Với thị trường Trung Quốc, giá chào trong tuần qua gần như không thay đổi so với tuần trước, các giao dịch khá ít. Mặt hàng sôi động nhất trong tuần qua là các loại thép cán nóng từ 2.0mm – 20mm, chủ yếu là hàng position các công ty thương mại đang nắm giữ.

Dưới đây là diễn biến chào giá các mặt hàng thép các ngày trong tuần:

Ngày

Thép cán nóng

Thép cán nguội

Thép dây xây dựng (WR)

25/11

-HRC2.0 SAE1006B:$560/tấn
'-HRS/HRC SS400B: $535/tấn
'-HRS/HRC Q345B: $555/tấn
-HRP dày SS400B: $520tấn

- CRC Fullhard: $590/tấn
- CRC SD: không có giá chào

- WR SAE1006B: $535 nhà máy Aosen, Jiujiang, $530 Tianzhu, Trung Quốc

26/11

-HRC2.0 SAE1006B:$555/tấn
'-HRS/HRC SS400B: $533/tấn
'-HRS/HRC Q345B: $555/tấn
-HRP dày SS400B: $525tấn

- CRC Fullhard: $590/tấn
- CRC SD: - CRC SD: $645/tấn

- WR SAE1006B: $535 nhà máy Aosen, Jiujiang, $530 Tianzhu, Trung Quốc

27/11

-HRC2.0 SAE1006B:$557/tấn
'-HRS/HRC SS400B: $538/tấn
'-HRS/HRC Q345B: $560/tấn
-HRP dày SS400B: $530/tấn

- CRC Fullhard: $590/tấn
- CRC SD: $645/tấn

- WR SAE1006B: $532 nhà máy Aosen, $532 Tianzhu, $535 Juijang, Tonghua Trung Quốc

28/11

-HRC2.0 SAE1006B:$556/tấn
'-HRS/HRC SS400B: $534/tấn
'-HRS/HRC Q345B: $555/tấn
-HRP dày SS400B: $530/tấn

- CRC Fullhard: $590/tấn
- CRC SD: $640/tấn

- WR SAE1006B: $532 nhà máy Aosen, Tianzhu, Juijang, Xuanhua, Xinyu, Tonghua Trung Quốc

29/11

-HRC2.0 SAE1006B:$556/tấn
'-HRS/HRC SS400B: $535/tấn
'-HRS/HRC Q345B: $555/tấn
-HRP dày SS400B: $530/tấn

- CRC Fullhard: $590/tấn
- CRC SD: $640/tấn

- WR SAE1006B: $532 nhà máy Aosen, Tianzhu, Juijang, Xuanhua, Xinyu, Tonghua Trung Quốc

Ngày

Thép Hình (beam)

GI cuộn lớn, GI băngn (Z80, base 1.0)

Phôi (billet)

25/11

- Size lớn: $570/tấn
'- Size nhỏ: $550/tấn
- Nhà máy Jinxi, Trung Quốc

- GI cuộn lớn: $665/ tấn Benxi, Saqiang
'- GI băng: $635/tấn Sanqiang, Forward

- Trung tầng: $508/mt 150 x 150
'- Quang điện, lò cao: $512 tấn 150 x 150

26/11

- Size lớn: $570/tấn
'- Size nhỏ: $550/tấn
- Nhà máy Jinxi, Trung Quốc

- GI cuộn lớn: $665/ tấn Benxi, Saqiang
'- GI băng: $635/tấn Sanqiang, Forward

- Trung tầng: $508/mt 150 x 150
'- Quang điện, lò cao: $515 tấn 150 x 150

27/11

- Size lớn: $568/tấn
'- Size nhỏ: $548/tấn
- Nhà máy Jinxi, Trung Quốc

- GI cuộn lớn: $660/ tấn Benxi, $650 Saqiang
'- GI băng: không chào giá

- Trung tầng: $508/mt 150 x 150
'- Quang điện, lò cao: $515 tấn 150 x 150

28/11

- Size lớn: $568/tấn
'- Size nhỏ: $548/tấn
- Nhà máy Jinxi, Trung Quốc

- GI cuộn lớn: $655/ tấn Benxi, $650 Saqiang
'- GI băng: $620/tấn Sanqiang, Forward

Không chào giá

29/11

Không chào giá

- GI cuộn lớn: $650/ tấn Benxi
'- GI băng: không chào giá

- Trung tầng: $505/mt 150 x 150
'- Quang điện, lò cao: $515/tấn 150 x 150

Lưu ý: Giá chào trên áp dụng cho cụm cảng khu HCM, Phú Mỹ, riêng cụm cảng phía Bắc cộng thêm 2- 3usd/tấn tuỳ vào từng công ty Thương mại.

Dự kiến giá chào trong tuần tới sẽ tiếp tục đi ngang, khoảng cách giữa giá chào nhập khẩu giữ mức 10-15usd/tấn khiến nhà nhập khẩu chưa sẵn sàng nâng giá mua thay vào đó là nguồn hàng thay thế giá tốt từ nội địa. Nhiều đánh giá vẫn tiếp tục cho rằng giá sẽ giữ xu hướng đi ngang và ổn định trong  tháng cuối năm 2013 này.

vThị trường thép Trung Quốc

Càng về gần cuối năm, thị trường thép Trung Quốc càng có nhiều dấu hiệu bất ổn. Lượng hàng tồn kho trên thị trường có giảm nhưng do không được sự hỗ trợ bởi sức mua nên giá các mặt hàng thép dao động liên tục. Hầu hết giới kinh doanh đều cho rằng giá không có khả năng tăng vào cuối năm do nhiều yếu tố bất lợi như thời tiết lạnh hơn, tín dụng thắt chặt vào cuối năm, tâm lý thận trọng của các nhà tích trữ cộng thêm sản lượng thép vẫn còn cao... thế nhưng giá cũng không thể lún sâu hơn nữa nhằm đảm bảo lợi nhuận đã rất ít ỏi của các nhà cung cấp.

Thị trường trong nước

Thép xây dựng

Đầu tuần, thép cây miền bắc tiếp tục giảm thêm 20 NDT/tấn so với thứ sáu tuần trước và tiến gần đến mức thấp trong năm nay chốt tại 3.360-3.370 NDT/tấn (551-553 USD/tấn) gồm VAT 17%, do sức mua yếu cộng thêm một số đại lý cần tiền mặt để trả nợ ngân hàng vào cuối năm nên đã hạ giá bán nhằm thu hút khách hàng. Nhưng sang đến thứ Ba, nhờ Hegang niêm yết giá thép cây HRB400 đường kính 18-25mm tại 3.380 NDT/tấn (555 USD/tấn) xuất xưởng gồm VAT 17%, với mức giá này đã đảm bảo lợi nhuận cho các đại lý khiến họ tự tin nâng chào giá lên 3.380-3.400 NDT/tấn gồm VAT 17%. Bàn về xu hướng giá thép cây sắp tới có nhiều ý kiến trái chiều nhau nhưng đa số đều cho rằng nếu giá tiếp tục phục hồi thì sức mua sẽ càng hạn chế thêm nữa dẫn đến nhiều bất lợi cho thị trường cuối năm.

Tuần này, cuộn trơn tăng 20 NDT/tấn (3 USD/tấn) so với thứ tư tuần trước do giá phôi thanh tăng. Tại thị trường Thượng Hải, hôm thứ Tư giá giao ngay của cuộn trơn Q195 đường kính 6.5mm tăng lên 3.370-3.390 NDT/tấn (553-556 USD/tấn) gồm VAT 17%.

Thép công nghiệp

Tâm lý của các nhà kinh doanh cùng với người mua còn nhiều thận trọng trước tình hình thị trường đầy bất ổn cho nên dù số lượng HRC tồn kho trên thị trường thấp cũng không giúp cho giá phục hồi nhưng dù sao cũng đã ngăn không cho giá giảm quá sâu. Trong tuần, HRC thay đổi lên xuống qua từng ngày cho thấy có sự điều chỉnh giá trên thị trường. Tuy nhiên đến thứ Năm, HRC Q235 5.5mm lại quay đầu giảm 15 NDT/tấn so với ngày trước đó còn 3.460-3.480 NDT/tấn (568-571 USD/tấn) gồm VAT 17% tại Thượng Hải.

Mặc dù CRC tồn kho có giảm nhưng do giá phục hồi một thời gian ngắn hồi đầu tháng 11 nên đã khuyến khích các nhà máy tăng cường đầu ra khiến sản lượng 10 ngày đầu tiên của tháng tăng trở lại; tuy nhiên đang vào mùa tiêu thụ kém nên giới kinh doanh không muốn giữ nhiều hàng trong kho vì vậy họ hạn chế thu mua khiến thị trường ảm đạm; cộng thêm với sự mất giá của HRC cũng làm tăng sức ép lên CRC. Hôm thứ Ba, CRC SPCC 1.0mm được chốt tại 4.220-4.300 NDT/tấn (693-706 USD/tấn) gồm VAT 17% tại Thượng Hải và 4.210-4.270 NDT/tấn có VAT tại thị trường Lecong (Quảng Đông), cả hai mức giá này đều giảm 15 NDT/tấn so với đầu tuần trước.

Thép tấm thương phẩm đã giữ được sự ổn định trong suốt tuần mặc dù sức mua ngày càng hạn chế hơn vào cuối năm, giá đã tăng nhẹ hồi đầu tháng đến nay nhờ sự phục hồi của các loại thép khác. Hôm thứ Tư, thép tấm Q235 12-20mm được bán với giá phổ biến khoảng 3.420-3.440 NDT/tấn, tăng 10-20 NDT/tấn so với tháng trước.

Thị trường xuất khẩu

Ngược với đà giảm trong nước, chào giá xuất khẩu CRC vẫn giữ quanh mức không đổi so với tuần trước khoảng 625-630 USD/tấn FOB do một số nhà máy đã đạt được kế hoạch xuất khẩu hàng năm nhờ lực mua mạnh từ Nam Mỹ và Mỹ. Giá có thể sẽ duy trì quanh mức này cho đến cuối năm vì không thể giảm sâu hơn nữa mà lại càng khó tăng.

Với lượng hàng tồn kho ở thị trường nội địa thấp và giá trong nước nhìn chung ổn định đã giúp giảm bớt áp lực lên thị trường xuất khẩu, dẫn đến chào giá xuất khẩu của HRC SS400B >= 3mm hôm thứ Năm không đổi so với cuối tuần trước chốt tại 530 USD/tấn FOB. Chỉ có những nhà máy đã có đủ đơn hàng thì mới tăng giá lên 535-540 USD/tấn FOB. Tuy nhiên, với xu hướng thị trường nhiều bất ổn và các nhà nhập khẩu đã trữ đủ đơn hàng cộng thêm nhu cầu suy yếu vào mùa đông sẽ làm cho giá khó mà ổn định ở mức như hiện nay được.

Giá xuất khẩu của thép tấm chứa boron dày 12-30mm loại SS400 đã nhích nhẹ lên trong tháng 11 nhờ sự phục hồi của giá trong nước, hầu hết các nhà máy đều tăng chào giá lên thêm 5 USD/tấn do số lượng đặt hàng từ thị trường trong nước và xuất khẩu đều tiến triển rất tốt. Tính đến ngày 28/11, giá giao dịch phổ biến của thép tấm loại SS400 12-30mm khoảng 517-520 USD/tấn FOB, tăng so với mức 510-515 USD/tấn hôm 29/10 của Platts.

Tại thị trường cuộn trơn xuất khẩu, người mua và người bán không thống nhất được giá giao dịch. Các nhà xuất khẩu muốn tăng giá lên 515 USD/tấn FOB do chi phí quặng sắt cùng với phôi thanh đều cao hơn nhưng người mua lại cho rằng mức giá 510 USD/tấn FOB mới hợp lý. Vả lại họ cũng không cần gấp lắm nên cứ bình thản quan sát thị trường. Cuộc giằng co giá vẫn chưa đến hồi kết, vì vậy hôm thứ tư, Platts vẫn giữ giá niêm yết đối với cuộn trơn SAE1008 đường kính 6.5mm của Trung Quốc không đổi 510-515 USD/tấn FOB.

Tương tự, thép cây xuất khẩu vẫn tiếp tục duy trì giá bán trong tuần này do các nhà máy không muốn hạ giá vì chi phí nguyên liệu cao và giá thép thành phẩm trong nước phần lớn vẫn ổn định. Chào giá thép cây trọng lượng lý thuyết phổ biến khoảng 520 USD/tấn CFR Singapore (với chi phí vận chuyển bình quân khoảng 20 USD/tấn nên tương đương 515 USD/tấn FOB trọng lượng thực tế), trong khi các khách hàng chỉ muốn mua với giá 515-520 USD/tấn CFR nên số lượng hợp đồng ký kết rất ít.

Có thể nói giá thép thị trường Trung Quốc ngày càng biến động khó đoán, tuy nhiên cũng chỉ dao động lên xuống trong phạm vi hẹp, nên mức giá hiện nay trên thị trường có thể sẽ tiếp tục kéo dài trong những ngày tới. Nhu cầu dự trữ vào mùa đông để có hàng cung cấp vào năm mới như các năm trước cho đến thời điểm này vẫn chưa có động tĩnh gì cho thấy thị trường sẽ tiếp tục ảm đạm trong những ngày cuối năm.

vThị trường thép Thế giới

Mỹ :Trong tuần này, thị trường phế Mỹ đã trở nên trầm lắng do hầu như các thương nhân và người bán đều rút khỏi thị trường trong kỳ nghỉ Lễ Tạ Ơn. Một nhà máy  thép cho biết có thể đã mua được lô hàng phế HMS tại mức giá 385-386 USD/tấn dài, cùng mức với đầu tháng 11.

Theo đó, giá  tấm mỏng Mỹ cũng đã dần ổn định.  Các đơn hàng HRC hiện đạt mức 670 USD/tấn tại Đông Nam. Platts vẫn duy trì giá HRC tại mức 675-685 USD/tấn và CRC tại mức 775-785 USD/tấn xuất xưởng Midwest.

Trong khi đó, các nhà máy thép tấm Mỹ dường như đang tự dồn mình sau các thông báo tăng giá quá cao. Tính qua các lần thông báo tăng giá kể từ tháng qua, các nhà máy Mỹ đã tăng giá mặt hàng này tổng cộng 70 USD/tấn. Việc này đã gây khó khăn cho thị trường để có thể chấp nhận và khiến các nhà máy khó mà tăng giá thêm được nữa. Trong tuần,  giá thép tấm A36 theo Platts đạt mức 730-750 USD/tấn xuất xưởng nhà máy Đông Nam Mỹ. Gía giao ngay đã tăng thêm khoảng 50 USD/tấn kể từ đầu  tháng trước, theo sau các thông báo tăng giá tới 70 USD/tấn của các nhà  máy nội địa trong cả hai tháng 10 và 11.Trong khi đó, giá nhập khẩu  đạt mức 650-670 USD/tấn CIF cảng Gulf.

Đối với mặt hàng cuộn trơn, giá đã bắt đầu tăng sau các thông báo tăng giá gần đây từ các nhà máy nội địa như Nucor, Gerdau Long Steel North America, ArcelorMittal Long Carbon North America and Keystone Steel and Wire đều đã độc lập thông báo tăng giá thép cuộn trơn thêm 30 USD/tấn hồi giữa tháng 10 và giữa tháng 11.

Tại Nam Mỹ,  giá giao ngay cuộn trơn dạng lưới đã tăng thêm 20 USD/tấn so với tháng trước, đạt mức 655 USD/tấn xuất xưởng.

CIS:Do điều kiện thời tiết lạnh trong mùa đông gây khó khăn cho quá trình vận tải hàng hóa nên phí vận chuyển phôi thanh CIS đã tăng. Tuy nhiên, các nhà máy phôi thanh CIS lại không thể tăng giá bán do nhu cầu tiêu thụ yếu và kém thu hút. Điều này đã ăn mòn lợi nhuận của các nhà máy.

Để thúc đẩy doanh số bán, một vài nhà máy CIS cũng  đã hạ giá chào bán phôi thanh tới các thương nhân Thổ Nhĩ Kỳ với  giá chào lô hàng  giao tháng 12   tới Nam Thổ Nhĩ Kỳ chỉ  đạt mức 520-525 USD/tấn CFR Iskenderun.  Platta cũng hạ giá phôi thanh CIS xuống 3 USD/tấn, còn mức 497 USD/tấn FOB Biển Đen, lần đầu tiên nằm dưới mức 500 USD/tấn kể từ ngày 9/10.

Tuy nhiên, giá phôi phiến xuất khẩu CIS lại tăng nhờ vào sự hậu thuẫn  từ nhu cầu tiêu thụ và giá thép tại thị trường các nước tăng. So với tháng 11, giá các lô hàng giao tháng 12 đã tăng thêm 30 USD/tấn. Trong đó, giá tới  khu vực Bắc Mỹ đạt mức cao nhất. So với mức 480-485 USD/tấn FOB cách đây 6 tuần, giá xuất khẩu phôi phiến hiện tại đã đạt mức 500-510 USD/tấn FOB Biển Đen.

Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại đã trở lại thị trường phôi phiến CIS với mức giá mua tăng lên mức 530 USD/tấn CFR, tương đương 518 USD/tấn FOB Biển Đen đã gồm phí vận chuyển 12 USD/tấn. Trong khi đó, giá bán sang Châu Âu cũng đã tăng  5 USD/tấn so với tháng trước,  đạt mức 485-490 USD/tấn FOB Biển Đen.

Dựa trên những điều kiện đó,  các nhà máy thép CIS đang  duy trì giá giao dịch cuộn trơn 5.5-12.5mm giao tháng 12 không đổi so với tháng trước, đạt mức  570-575 USD/tấn mặc dù sức mua vẫn ở mức trung bình. Trong đó, phần lớn các lô hàng được chuyển tới Trung Đông và Bắc Phi đẻ ngăn chặn sự thống trị của hàng Trung Quốc tại các thị trường này. Bên cạnh đó, các nhà máy  CIS cũng chú trọng bán hàng sang Bắc Âu, Đông Âu,  các nước láng giềng Bantic và thị trường rộng lớn nhất của CIS là Nga.

Đối với mặt hàng thép cây, một nhà máy CIS đã bán lô hàng tháng 12 tại mức 465 Euro/tấn (630 USD) FOB FOB Klaipeda, Lithuania trong khi ở Nga và các thị trường lớn khác của nó, nhà máy này lại  giảm giá chào bán thép cây 12mm và 14mm  tháng 12 xuống mức 17.970 và 17.600 Rub/tấn CPT Maxcova do giá phôi thanh giảm.

Châu Âu:Thị trường thép Châu Âu  tuần này đã diễn ra chậm lại sau các làn sóng tăng giá trước đó. Gía thép hiện gần như bình ổn mặc dù các nhà máy vẫn nỗ lực tăng giá do đa số người mua đều đã tích trữ đủ hàng. Bên cạnh đó, mùa đông tới gần cũng khiến nhu cầu tiêu thụ ngày càng trì trệ.

Hiện tại, giá giao ngay trên thị trường HRC đạt mức 450 Euro/tấn, trong khi giá CRC được phục hồi một ít với  giá chào lô hàng CRC giao Qúy 1 từ ArcelorMittal và Tata Steel đạt mức 530-540 Euro/tấn xuất xưởng. Trong khi đó, giá chào từ các nhà máy Ý thấp hơn 10 Euro/tấn.

Tương tự, giá thép thanh thương phẩm EU cũng  đã duy trì ổn định trong 2 tuần qua bất chấp những nỗ lực tăng giá từ  các nhà máy. Tại  Bắc Âu ,  giá thép thanh thương phẩm hiện đạt mức 170 Euro/tấn giá giao cơ bản và các nhà máy đang  cố gắng đẩy giá lên mức 180-190 Euro/tấn giá giao cơ bản đối với các lô hàng tháng 1. Trong khi đó, tại Nam Âu, các nhà máy cũng  đang tăng giá chào bán lên mức 150-160 Euro/tấn xuất xưởng thanh toán trong vòng 30 ngày, tuy nhiên giá vẫn chưa có dấu hiệu tăng.

Đối với mặt hàng thép tấm, tình hình nhìn chung lúc này cũng vẫn là ổn định. Giá thép tấm  Qúy 1/2014 vẫn không đổi so với Qúy 4. Gía thép tấm tại các nhà máy Ý và Tây Bắc Châu Âu vẫn lần lượt cố định tại mức   500-520 Euro/tấn và 500-530 Euro/tấn xuất xưởng trong khi  giá chào từ khu vực Trung Âu đạt mức 480-485 Euro/tấn xuất xưởng.

Trong khi đó, giá thép  hình Châu Âu đã gỡ gạc lại được 5-10 Euro/tấn mà nó đã bị mất hồi đầu tháng, đưa giá hiện tại trở về mức ngang bằng với tháng trước dựa vào sự tăng lên của giá phế. Tại Bắc Âu, giá giao dịch gần đây nhất đối với thép hình loại 1 đạt mức 545-560 Euro/tấn giá giao thực tế, và tại Nam Âu là 535-545 Euro/tấn xuất xưởng.

Thổ Nhĩ Kỳ:Thay vì tăng lên như dự báo hồi đầu tháng, thị trường thép dẹt Thổ Nhĩ kỳ đã trở về mức ổn định do tình hình thị trường vẫn trầm lắng sau khi người mua gần như đã tích trữ đủ hàng và chuyển sang tâm lý chờ.

Giá chào bán  HRC Thổ Nhĩ Kỳ hiện đạt mức 585-595 USD/tấn xuất xưởng và các nhà máy đặt mục tiêu giá là 600 USD/tấn, tuy nhiên mức giá này khó mà đạt được do không thu hút. Trong khi đó, giá chào từ  CIS vẫn duy trì ổn định kể từ tuần qua với gía chào HRC Ukraina hiện đạt mức 545 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ, và giá chào từ Nga là 555-565 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ.

Giá CRC Thổ Nhĩ Kỳ cũng vẫn duy trì ổn định kể từ tuần qua, sau khi phục hồi theo giá HRC hồi đầu tháng. Các nhà máy  Thổ Nhĩ Kỳ đang chào bán CRC tại mức 700-710 USD/tấn xuất xưởng, tăng 10 USD/tấn so với cuối tháng 10, tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ vẫn tương đối  chậm.

Trong khi đó, các nhà  máy HDG và PPGI Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang nỗ lực duy trì giá các mặt hàng này, tuy nhiên, mùa đông tới gần đã gây sức ép giảm giá lên giá chào bán. Các nhà máy địa phương hiện đang chào bán HDG 0.5mm tại mức 780-800 USD/tấn xuất xưởng trong khi giá HDG 1mm đạt mức 750-760 USD/tấn xuất xưởng, không đổi so với tuần trước. Trong khi đó, PPGI 0.5mm có giá là 970-1.000 USD/tấn xuất xưởng.

Thổ Nhĩ Kỳ đang thúc đẩy doanh số bán thép cây  sang Trung Đông. Hiện tại, giá chào mua đối với lô hàng thép cây  Thổ Nhĩ Kỳ giao tháng 12 và tháng 1  đạt mức 605-610 USD/tấn CIF Alexandria. Platts cũng đã tăng giá thép cây thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu thêm 5 USD/tân, đạt mức 588 USD/tấn.

Nhật Bản:Thị trường thép Nhật bản tuần này nhìn chung vẫn tiếp tục xu hướng tăng giá của tuần trước do nhu cầu tiêu thụ ngày một mạnh thêm. Ngay từ đầu tuần, nhiều nguồn tin đã cho hay giá thép tấm thương phẩm nội địa có thể sẽ tăng thêm vì các đại lý phân phối đã đồng ý với đề nghị tăng giá bán lẻ của nhà sản xuất và nguồn thép cung ứng từ nhà máy hiện đang hạn chế. Tại thị trường Tokyo, giá tấm SS 1.524x3.480mm độ dày 19mm hiện đang có giá khoảng 83.000-85.000 Yên/tấn (822-842 USD/tấn) và loại tấm không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật Nhật Bản thì có giá 79.000-81.000 Yên/tấn; tăng thêm 2.000 Yên/tấn (20 USD/tấn) so với giá đầu tháng 10, tuy nhiên không đổi so với giá cuối tháng 10.

Tại thị trường thép cuộn, Nippon Steel & Sumitomo Metal Corp (NSSMC) đang từng bước tạo áp lực buộc người tiêu thụ thép phải chấp nhận mức giá tăng còn lại trong lộ trình tăng giá bán lẻ thêm 15.000 Yên/tấn (147 USD/tấn) mà nhà máy đã đề ra vào mùa xuân năm ngoái; do nhu cầu tiêu thụ thép cuộn đang gia tăng nên nhiều khả năng đợt tăng giá này của NSSMC sẽ đạt được mà không vấp phải sự phản đối của thị trường. Hiện nay, hầu hết người mua đều đã chấp nhận mức giá tăng thêm 10.000-12.000 Yên/tấn. NSSMC không tiết lộ giá bán nhưng giá trên thị trường trong nước hiện nay của HRC SS400 dày 3mm được cung cấp bởi các nhà máy hợp nhất của Nhật Bản có giá bán giao ngay khoảng 62.000 Yên/tấn (608 USD/tấn).

Tại thị trường phế, động thái nâng giá thu mua phế thêm 500-1.000 Yên/tấn (5-10 USD/tấn) của Tokyo Steel, có hiệu lực từ hôm thứ Ba đã khiến các nhà sản xuất thép thanh tỏ ra lo lắng. Trong khi, một cách rõ ràng, mục đích của Tokyo Steel nâng giá thu mua phế lên là để đồng loạt tăng giá tất cả các mặt hàng thép mà công ty sản xuất; thì điều này lại khiến các nhà sản xuất thép thanh đối diện với nguy cơ không thu được lợi nhuận vì giá phế hiện nay là quá cao so với giá thép thanh. 

Tại thị trường xuất khẩu, các thương nhân kỳ vọng sẽ đạt được mức giá xuất khẩu ít nhất là 38.000 Yên/tấn (376 USD/tấn) FOB; các thương nhân này đang thu mua phế H2 với giá 37.000-38.000 Yên/tấn (366-376 USD/tấn) FAS. Có thể giá xuất khẩu có thể tăng trong tháng 12 và tháng 01 sau việc Tokyo nâng giá thu mua.

Hàn Quốc:Tuần này tại thị trường Hàn Quốc, mặc dù  sức mua không tăng, tuy nhiên một số nhà máy buộc phải tăng giá bán do chi phí sản xuất tăng. Cụ thể, hôm đầu tuần, Hyundai Steel và Dongkuk Steel Mill thông báo tăng giá thép cây và thép dầm trong nước lên thêm 30.000 Won/tấn (28 USD/tấn) kể từ ngày 02/12.Theo đó giá bán mới của Hyundai đối với thép cây loại SD400 10mm là 760.000 Won/tấn (716 USD/tấn), còn thép dầm hình H cỡ nhỏ sẽ tăng lên 870.000 Won/tấn. Theo Huyndai thì, tuần trước giá điện đã tăng thêm 6,4%; thêm vào đó là giá phế và ferrit cũng tăng theo, buộc nhà sản xuất phải tăng giá bán. Trong khi đó, thị trường thép vẫn còn suy yếu do sự cạnh tranh của thép nhập khẩu từ Trung Quốc cũng như bất ổn trong ngành xây dựng gây áp lực lên thị trường thép nội địa.

Đài Loan:Thị trường thép tuần này tại Đài Loan tương đối ổn định vì hầu hết các nhà sản xuất lớn đều cho biết sẽ duy trì giá bán không đổi.

Hôm thứ Hai, Feng Hsin Iron & Steel, thông báo giữ giá niêm yết thép cây trong nước tuần thứ hai liên tiếp vì sức mua chậm. Theo đó, thép cây cỡ cơ bản của Feng Hsin có giá 18.000 Đài tệ/tấn (608 USD/tấn) xuất xưởng Đài Trung

Hôm thứ Hai, nhà máy này cũng không thay đổi giá mua phế HMS 1&2 80:20 so với tuần trước, vẫn giữ mức giá 10.500 Đài tệ/tấn.

Đến hôm thứ Ba, Chung Hung Steel, thông qua người đại diện, đã cho hay, công ty sẽ tiếp tục duy trì giá bán cuộn cán nóng và cán nguội tại thị trường trong nước và xuất khẩu do thị trường tương đối ổn định. Cụ thể, giá HRC và CRC xuất khẩu giao tháng 01 của Chung Hung có giá lần lượt 570 USD/tấn và 670 USD/tấn FOB Đài Loan; giá niêm yết trong nước cho 2 sản phẩm trên có giá là 18.500 Đài tệ/tấn (624 USD/tấn) và 23.000 Đài tệ/tấn; đều giao tháng 12.

Hôm qua, thứ Năm, tiếp nối động thái của các nhà máy trên, Yieh United Steel Corp. (Yusco) tuyên bố tiếp tục duy trì giá tất cả các loại HRC, CRC không gỉ đối với những lô hàng giao tháng 12 trong nước và hàng xuất khẩu tháng 01.Theo đó, giá niêm yết trong nước của Yusco cho HRC 304 2mm và CRC 2B 2mm lần lượt là 89.500 Đài tệ/tấn (3.017 USD/tấn) và 94.000 Đài tệ/tấn. Còn giá xuất khẩu thì nhà máy không tiết lộ.

Ấn Độ:Thị trường thép Ấn Độ vẫn tiếp tục trì trệ trong tuần này; do đó giá HRC trong nước nhiều khả năng sẽ được duy trì đến hết tháng 12 và sẽ không giảm thêm vì nhà sản xuất kỳ vọng tình hình sẽ khá hơn vào tháng 01/2014. Giá HRC A/B loại IS 2062 dày từ 3mm trở lên có giá giao dịch bình quân trong nước khoảng 36.000-37.000 Rupees/tấn xuất xưởng; tương đương giá nhập khẩu 539-552 USD/tấn CFR Mumbai với thuế nhập khẩu 7,5%. Các thương nhân Trung Quốc đã giữ chào giá xuất khẩu đối với HRC SS400 dày từ 3mm trở lên tại 530-535 USD/tấn FOB Trung Quốc, tương đương ít nhất 565-570 USD/tấn CFR Mumbai.

Đông Nam Á:Thị trường tài chính có nhiều biến động trong tuần, kéo theo nhu cầu tiêu thụ sắt thép cũng giảm. Tại Indonesia, đồng nội tệ suy yếu so với đồng USD, khiến cho thị trường nhập khẩu thép và phế không nhận được sự quan tatm của người tiêu dùng. Giá mà các nhà nhập khẩu có thể mua phôi thanh tầm 520 USD/tấn CFR, giảm so với mức giá giao dịch trước đây 542 USD/tấn CFR Indonesia vào giữa tháng 09, nhưng các nhà cung cấp đã từ chối.Phôi thanh nhập khẩu từ Ấn Độ hay Biển Đen hiện được chốt tại 535-540 USD/tấn CFR Indonesia; phôi thanh xuất xứ Hàn Quốc có giá 550 USD/tấn CFR. Thị trường phế nhập khẩu cũng không khá hơn, các nhà máy trong nuơc1 tập trung thu mua phế nội địa do chênh lệch giá so với phế nhập khẩu. Giá nhập khẩu phổ biến trong tuần này của phế HMS 1&2 80:20 (lô nhỏ) khoảng 350-355 USD/tấn CFR.

Trung Đông:Tuần này, thị trường thép Trung Đông tiếp tục trì trệ; trong khi đó việc các nhà nhập khẩu tiến hành thu mua một số lượng lớn thép cây từ Thổ Nhĩ Kỳ đã làm cho giá thép nội địa không thể tăng theo đà tăng của giá phế. Trong tuần, Emirates Steel (ESI) chỉ có thể tăng giá thép cây lên thêm 20 AED/tấn (5 USD/tấn) cho những đơn hàng tháng 12 khi mà thực tế nhà sản xuất phải tăng giá lên mức 50-60 AED/tấn. Cụ thể, giá phôi thanh thế giới đã tăng lên 500 USD/tấn FOB; 550 USD/tấn CFR Dubai, cộng thêm 45-50 USD/tấn chi phí cán, vì vậy giá thép cây sẽ là  610-615 USD/tấn. Nhưng ESI chỉ bán với giá 600 USD/tấn do hàng của Thổ Nhĩ Kỳ chất đống trên thị trường với giá chỉ có 590 USD/tấn.Nhà máy thép cây Conares ở Dubai đã tăng 30 AED/tấn (8 USD/tấn) cho hàng đặt mua tháng 12 lên 2.200 30 AED/tấn (599 USD/tấn) giao tới Dubai.Còn Qatar Steel vẫn giữ giá bán tới UAE tại 2.175 QAR/tấn (597 USD/tấn) CPT cho tháng 12.

v.Giá các mặt hàng thép cơ bản Việt Nam

Giá các mặt hàng thép cơ bản nội địa tuần này đã nhích lên so với tuần trước. Nguyên nhân do giá nước ngoài cũng tăng lên một chút cộng với cầu đã tăng lên so với tuần trước.” Tuần này có vẻ bán được hơn các tuần trước, có thể do một số công trình đang hoàn thiện vào cuối năm, tuy nhiên lượng tăng không nhiều” một công ty thép cho biết.

 

Chào giá (đ/kg)

Xuất xứ

Giá

Tăng/giảm

Cuộn trơn Ø6

Trung Quốc

12.300;12.400;12.500

Giảm một chút

Cuộn trơn Ø8

Trung Quốc

13.100;13.200

Giá không đổi

Thép tấm 3,4,5,6 mm

Trung Quốc

12.700

Tăng 100 đ/kg

Thép tấm 8mm

Trung Quốc

12.800;13.000

Không đổi

Thép tấm 10mm

Trung Quốc

13.100; 13.300

Tăng giá 200-300

Thép tấm 12mm

Trung Quốc

13.000;12.700

Giảm 100

HRC 2mm

Trung Quốc

12.700;13.000;13.100

13.000-13.100

v.Hàng cập cảng:

STT

Loại hàng

Khối lượng (kg)

1

THÉP CUỘN CÁN NÓNG

1.621.223

2

THÉP CUỘN CÁN NGUỘI

117.965

3

TÔN MẠ

888.948

4

THÉP CÂY

23.976

5

THÉP HÌNH

1.023.842

Phan Minh Tài
Liên hệ : 0903.500.788
Công Ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương
Điện thoại: 0511.3.795.555
Fax: 0511.3.795.656
Email: info@pacificsteel.vn
1089825
Hôm Nay
Hôm Qua
This Week
This Month
Tất Cả
56
299
1135
3309
1089825

Your IP: 54.234.247.118
Server Time: 2017-12-16 01:26:18